Phật Đạo

 

Thiên Địa Bát Dương

 

NGHI THỨC TỤNG KINH

(Thắp 3 cây hương quỳ ngay thẳng, cầm hương ngang trán, niệm lớn...)

 

CÚNG HƯƠNG

 

 

       Nguyện đem ḷng thành kính

       Gởi theo đám mây hương

       Phưởng phất khắp mười phương

       Cúng dường ngôi Tam Bảo

       Thề trọn đời giữ đạo

       Theo tự tánh làm lành

       Cùng pháp giới chúng sanh

       Cầu Phật từ gia hộ

       Tâm Bồ đề kiên cố

       Xa bể khổ ṿng mê

       Chóng quay về bờ giác.

 

(Xá 3 xá, rồi đọc tiếp...)

 

 

Nay chính là ngày chư tăng kiết hạ, đem đức lành chú nguyện chúng sanh, chúng con một dạ chí thành, cúng dường tŕ tụng, đem công đức nầy, nguyện khắp mười phương, ba ngôi Tam Bảo, đức Thích Ca Mâu Ni Phật, đức Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật, cùng các vị Bồ tát, tịnh đức chúng tăng, từ bi gia hộ cho cửu huyền thất tổ, cha mẹ nhiều đời của đệ tử, cùng tất cả chúng sanh sớm rơ đường lành, thoát ṿng mê muội, ra khỏi u đồ, siêu sanh lạc quốc. Ngưỡng mong oai đức vô cùng xót thương tiếp độ.

 

NAM MÔ THẬP PHƯƠNG THƯỜNG TRÚ TAM BẢO (3 lần)

 

(Đứng dậy, xá 3 xá, cắm hương vào lư, rồi đứng đọc tiếp...)

 

(Trường hợp muốn xin riêng cho một chúng sanh nào đó, th́ nên viết vào SỚ và qú đọc sớ, đọc sớ xong đứng dậy, xá 3 xá, cắm hương vào lư, và đọc tiếp...)

 

 

TÁN THÁN PHẬT

 

 

       Đấng Pháp Vương Vô thượng

       Ba cơi chẳng ai bằng,

       Thầy dạy khắp Trời Người

       Cha lành chung bốn loài

       Qui y tṛn một niệm

       Dứt sạch nghiệp ba kỳ

       Xưng dương cùng tán thán

       Ức kiếp không cùng tận

 

 

 

QUÁN TƯỞNG

 

 

          Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng

          Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn

          Lưới Đế châu ví đạo tràng

          Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời

          Trước bảo tọa thân con ảnh hiện

          Cúi dầu xin thệ nguyện qui y.

 

 

 

ĐẢNH LỄ

(Xá 3 xá rồi xướng lạy)

 

- Chí tâm đảnh lễ: Nam tận hư không, biến pháp giới, quá, hiện, vị lai Thập phương chư Phật, Tôn pháp, Hiền Thánh Tăng, thường trú Tam bảo. (1 lạy)

 

- Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Điều Ngự Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ tát. (1 lạy)

 

- Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di Đà Phật, Đại bi Quán Thế Âm Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ tát, Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ tát, Thanh Tịnh Đại hải Chúng Bồ tát. (1 lạy)

 

(Đứng hay ngồi tụng tùy ư)

 

 

TÁN LƯ HƯƠNG

 

 

          Kim lư vừa bén chiên đàn

          Thắp xông pháp giới đạo tràng mười phương

          Hiện thành mây báu kiết tường

          Các Phật rơ biết ngọn hương chí thành

          Pháp thân toàn thể hiện tiền

          Chứng minh hương nguyện phước liền ban cho.

 

 

NAM MÔ HƯƠNG VÂN CÁI BỒ TÁT (3 lần)

 

 

CHÚ ĐẠI BI

 

NAM MÔ ĐẠI BI HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT (3 lần)

 

Thiên thủ thiên nhăn vô ngại đại bi tâm đà la ni.

 

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô yết đế, thước bát ra da, Bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án, tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa.

 

Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da, bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà.

 

Nam mô na ra cẩn tŕ hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án, a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô, kiết mông độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da,dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn tŕ địa rị sắc ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà da ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn tŕ, ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn tŕ bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha.

 

Nam mô hắc ra đát na, đa ra da da. Nam mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha.

 

Án, tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha. (3 lần)

 

NAM mÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT (3 lần)

 

 

KHAI KINH KỆ

 

 

       Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,

       Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ,

       Ngă kim kiến văn đắc thọ tŕ,

       Nguyện giải Như Lai chơn thiệt nghĩa.

 

 

 

PHẬT NÓI KINH THIÊN-ĐỊA BÁT-DƯƠNG

 

(Đời Diêu Tần, Ngài Pháp Sư Cưu-Ma-La-Thập dịch)

 

PHẨM THỨ NHẤT

TRONG PHÁP HỘI THÀNH TỰU

 

Ta nghe như vầy: lúc bấy giờ Phật ở tại thành Tỳ-Gia Ly-Đạt-Mạ, khai hội thuyết pháp.  Có tịnh tín nam nữ, mười phương đàn-việt đều tụ hội nghe pháp, bốn chúng đều vây quanh đầy đủ.

 

PHẨM THỨ NH̀

KHAI BÀY CHÁNH KIẾN

 

Khi ấy ông Vô-Ngại Bồ Tát ở trong đại chúng, từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối chắp tay trước Phật mà bạch như vầy:

 

“Ngưỡng bạch đức Thế Tôn, chúng sanh ở trong cơi Nam-Diêm Phù-Đề nầy, thay đổi sanh sản nhau, từ đời vô-thỉ đến nay, tiếp nối hoài không dứt, nhưng mà trong nhân loại ấy, xem lại cho kỹ, th́ hạng người có học ít quá, c̣n người vô tri th́ nhiều, người tu hành niệm-Phật th́ ít, hạng mê-tín cầu lạy tà-thần giả quỷ th́ nhiều; người tu niệm tŕ trai giữ giới th́ ít, chúng lợi dưỡng phá giới huỷ luật th́ nhiều; bậc tinh-tấn tu hành th́ ít, người biếng nhác dăi đăi th́ nhiều; bậc thông minh trí tuệ th́ ít, đứa ngu si độn trược th́ nhiều; kẻ trường thọ trăm năm th́ ít, chúng đoản mạng yểu vong th́ nhiều; người tĩnh tâm thiền-định th́ ít, kẻ tán loạn náo động th́ nhiều; phần giàu sang no ấm th́ ít, chúng nghèo đói khốn khổ th́ nhiều; người dịu dàng thanh nhă th́ ít, chúng cang cường hung tợn th́ nhiều; người chơn chánh ngay thẳng th́ ít, bọn hồ đồ dua-vạy th́ nhiều; người tịnh-hạnh thanh bạch th́ ít, chúng tham-lam ô-trọc th́ nhiều; người có tâm quảng đại bố thí th́ ít, chúng gian-xảo keo-rít th́ nhiều; người chí tín thành thật th́ ít, kẻ dối-trá quỷ-quyệt th́ nhiều.

 

Bởi vậy, nên khiến cuộc đời gay-gắt, đồng bào ruột thịt nỡ ḷng tàn hại lẫn nhau, thêm phép quan quyền khắc khổ sưu cao thuế nặng, bá tánh chịu bề nghèo đói, thời kỳ khủng bách, công làm đổ mồ hôi chỉ đủ nuôi miệng ăn, có dư đâu mà bảo tồn con vợ ?

 

Nguyên do v́ đâu? V́ tâm tà vậy, tin theo việc hoang-đàng, sở kiến ngược ngạo, nên nhân loại phải bị cái khổ-nguy dường ấy. “Cúi xin Đức Thế Tôn, v́ ḷng từ bi thương xót kẻ tà kiến, diễn nói các pháp chánh-kiến cho chúng nghe, khiến được tỏ ngộ, phản tà quy chánh, mà thoát khỏi các nạn khổ kia vậy”.

 

Phật khen nói: “Người luận nói như vậy hay lắm".

 

"Này ông Vô Ngại Bồ Tát! Ngươi có tâm từ-bi thương đời lớn lắm, nay ngươi muốn giúp các người tà-kiến kia mà cầu hỏi ta về pháp chánh-kiến, thật là phước đức ngươi to tát biết bao. Ngươi nay phải định thần nghe rơ ghi nhớ vào ḷng, ta nay thương giúp ngươi mà phân tỏ, diễn nói kinh Thiên-Địa Bát-Dương này. Kinh này không phải một ḿnh ta mới nói thôi, chẳng những đời quá khứ các Đức Phật đă nói rồi, và đời vị lai chư Phật sẽ nói, mà đời hiện tại nay chư Phật cũng đang nói nữa. Luận như trong trời đất đây, những h́nh tướng vạn hữu, th́ duy có con người là tối linh trên muôn vật, luận chữ Nhân là Chân, là làm con người phải có Chân tâm, không tưởng quấy, thân nầy thi hành mỗi việc đều chánh-trực. Cho nên chiết tự chữ Nhân đó coi, th́ chữ Phúc bên trái gọi là Chân, c̣n chữ vệ bên phải kêu là Chánh, ḿnh thường làm việc Chánh-Chân nên kêu là chữ Nhân.

 

Cho nên có câu: "Vi Nhân mạt thuyết thành Chân dị" nghĩa là: “Ở đời đừng nói làm được con người là dễ, làm sao cho tư-cách ḿnh nó phù hợp với nghĩa lư chữ Nhân nầy mới được”. Phải biết, người kia muốn dựng nên mối Đạo, th́ trước phải dùng Chánh-Đạo mà sửa ḿnh y theo Chánh-Đạo, y theo nhân-luân th́ đều nên quả Phật".

 

Phật lại gọi ông Vô-Ngại Bồ-Tát nói: “Chân thân khó được mà nay hết thảy mọi người đời đă được Chân thân rồi, tại sao lại không tu đường phước thiện, lại bỏ việc Chánh-Chân đi làm điều giả dối, gây toàn là ác-nghiệp đến khi thân mạng chết rồi, thần-hồn sa đọa trong biển khổ, chịu đau đớn trăm bề. Bằng hết thảy người đời, được nghe kinh nầy, sanh tâm kính tín không trái nghịch, th́ được thoát khỏi nạn hết tội khổ, đặng ra khỏi biển khổ, có các vị Thiện-Thần thầm giúp, không việc chi ngăn trở, lại đặng trường thọ, không bao giờ chết yểu.

V́ sao được vậy? Là do nơi sức Chánh-Tín mới được phước như vậy, nếu ai biên chép thọ tŕ đọc tụng, y theo chánh-pháp mà tu hành, th́ công-đức của người đó vô-lượng vô-biên không tính kể xiết, đến ngày lâm chung, người ấy chắc chứng đặng quả Phật".

 

Phật gọi: "Này ông Vô-Ngại Đại Bồ-Tát ! Bằng có người nào tà-tính, kiến thức ngược ngạo tức phải bị nạn, tà ma ngoại đạo, quỷ ly mị, quỷ vọng lượng, chim mèo chim ụt, chim cú chim heo, kêu trăm điều dữ lạ, thêm loài ác quỷ ác thần, đến làm náo loạn trong nhà, vợ chồng tắng-đắng nhau, cha con xào-xáo, hoặc sanh các bịnh phi thường, chịu đủ hết các chứng bịnh khổ, không ngày nào giảm bớt. Bằng người ấy, muốn cho hết tai nạn vừa nói đó, th́ thỉnh ông thầy chơn tu, giúp tụng kinh nầy ba biến, th́ các vị quỷ thần độc ác, đều  tiêu diệt hết, các bịnh dữ cũng tiêu trừ, thân thể được lành mạnh, phục sức như xưa, ấy là nhờ công đức đọc tụng kinh Bát-Dương này, mà chuyển họa thành phước như vậy.

 

Phàm có người nào ưa muốn dâm dục, sâu độc ngu si, gian tham tật đố, nhưng khi được nghe thấy kinh nầy, mà phát tâm chánh tín cúng dường, nguyện tụng kinh nầy ba biến, th́ các việc dữ kể trước thảy đều tiêu diệt, phát tâm từ bi hỷ xả, sau đặng quả Phật".

 

Phật gọi ông Vô-Ngại nói: “Phàm có người Thiện nam, Tín nữ nào muốn làm việc hữu-vi, trước phải tụng kinh nầy ba biến, rồi sau mới đắp nền xây tường dựng làm nhà cửa, hoặc làm nam đường bắc đường, đông lang tây lang, nhà bếp nhà khách, cửa ngơ, đào giếng, cối giă cối xay, kho tàng, chuồng trại, nuôi đồ lục súc v.v... hoặc rủi nhằm phương nhật du, phương nguyệt sát, tướng quân Thái-tuế, cùng sao Huỳnh-phan, sao Bát-dĩ, ngũ-thổ địa kỳ, Thanh-long bạch-hổ, hoặc nhằm phương Chu-tước Huyền-vơ, Lục-giáp cấm kỵ mười hai chi, mười can, xâm phạm phương thổ quỷ thần phục long, tất cả loài quỷ mỵ, v́ trước khi ḿnh làm các việc hữu-vi, th́ ḿnh đâu có hiểu phương hướng và sao trạm mà lựa chọn, chỉ cứ tụng kinh Bát-Dương nầy. nhờ oai thần của Phật hộ tŕ tất cả quỷ-mỵ thảy đều ẩn mất, tránh xa đi bốn phương, h́nh tiêu bóng mất, chẳng dám làm hại tới ḿnh, việc được tốt lành phước báu vô-lượng.

 

Nay người Thiện-nam Tín-nữ, ai y theo lời Phật dạy tụng kinh Bát-Dương nầy, khi khởi công làm rồi, hoặc nhà cửa lâu đài, th́ gia đạo được b́nh an lâu dài, thêm giàu sang vinh hiển chẳng nhọc sức mưu cầu, mà tự nhiên có của tới.

 

Như có người nào đi phương xa, hoặc làm quan đi phó nhậm, hoặc tùng trong quân thứ, mà tụng kinh Bát-Dương nầy th́ đều được lợi lành, nhà cửa được hưng thạnh, bậc người cao sang, con cháu vinh hiển, cha lành con thảo, trai trung b́nh chánh trực, gái trinh liệt hiền lương, anh em ḥa thuận, phu xướng phụ tùy, gia đ́nh ḥa-hảo, ḷng tín nghĩa thờ đôi thân, chỗ nguyện chi đều được thành tựu cả, ấy là nhờ oai-lực tụng kinh Bát-Dương này vậy.

 

Phàm có người nào, bị quan quyền bắt buộc, hoặc án trộm cướp liên luỵ tới ḿnh, khi ấy tĩnh tâm tụng kinh Bát-Dương nầy ba biến liền đặng thoát khỏi tai nạn kia.

 

Phàm có người Thiện-nam Tín-nữ thường thọ tŕ đọc tụng, giúp người biên chép kinh Bát-Dương nầy, th́ người ấy dẫu rủi sa trong nước lửa, cũng nhờ oai lực Phật, khỏi bị cháy ch́m, bằng ở trong núi rừng có nhiều hùm sói thú dữ, mà nó thấy người thọ tŕ kinh Bát-Dương nầy th́ độc trùng ác-thú, thảy đều lánh xa không bao giờ dám giết hại mạng, là v́ người tụng kinh này có vị thiên thần theo hộ vệ, chẳng những vậy thôi mà sau lại c̣n chứng đặng quả Phật.

 

Hoặc có người nào, cuống lưỡi bén, nói dối, thêu dệt lời nói, nói lưỡi hai ch́, nói lời thô ác, mà người ấy tự biết lỗi chừa bỏ cứ đọc tụng kinh nầy th́ tiêu hết bốn lỗi trước, lại đặng biện-tài tứ vô-ngại, sau đặng chứng quả vị Phật.

 

Này hết thảy thiện nam tín nữ! Phàm cha mẹ có tội, đến ngày lâm chung, chắc phải đọa vào nơi Âm-cảnh, chịu khổ trăm phần nếu được trên thế gian con cháu thành tâm, tụng kinh này bảy biến, th́ cha mẹ thoát khỏi khổ địa-ngục, thần-hồn đặng sanh về thiên-thượng, đặng thấy Phật nghe pháp, lại đặng lực vô sanh pháp nhẫn, đặng trọn nên Phật đạo".

 

Phật kêu ông Vô-Ngại nói: "Kiếp quá khứ Đức Phật Tỳ-Bà-Thi trị đời, v́ thuở ấy có thiện-nam tín-nữ, tâm không tin bọn tà sư ngoại đạo, duy có ḷng chánh tín kính trọng Phật pháp, ra công biên chép kinh Bát-Dương nầy, và thường thọ tŕ đọc tụng kinh nầy, muốn làm việc chi cứ nhất định làm, tất cả việc không cần bói toán xem coi ngày giờ chi cả, cứ lấy tâm chánh trực mà thôi, do thiện-nam tín-nữ thời ấy có tâm chánh tín, cùng làm việc bố thí, giữ tâm b́nh đẳng cúng dường, nên mới được thân vô-lậu, thành đạo quả Bồ-Tát, hiệu là: Phổ-Quang Như-Lai, sau đặng thành bậc Chánh-Giác, kiếp đó gọi là kiếp Đại-Măn, quốc hiệu là Vô-Biên. Mà do v́ sao mới được vậy? Là v́ nhân dân thời ấy có tâm chánh tín, không c̣n mê tín Tà-Sư ngoại-đạo, cứ tu hành theo đạo Bồ-Tát là: Bố-thí, tŕ-giới, nhẫn-nhục, tinh-tấn, thiền-định, và trí-tuệ mới được hưởng các sự phước báu như vậy, là nhờ oai lực chánh-tín tụng kinh Bát-Dương nầy".

 

Phật lại gọi ông Vô-Ngại bồ tát mà nói: “Kinh Bát-Dương nầy, nếu trong cơi Nam-Diêm Phù-Đề chỗ nào có để kinh Bát-Dương th́ đều có năm vị Bồ-tát, và các vị Phạm Thiên-Vương, cùng hết thảy vạn linh đồng vây xung quanh ủng hộ kinh ấy, cho nên người tụng kinh nầy, phải sắm sửa hương hoa cúng dường như chư Phật c̣n tại thế không khác nhau vậy”.

 

Phật kêu ông Vô-Ngại nói: “Bằng có thiện-nam tín nữ nào, trợ giúp người đời diễn nói kinh nầy, ḿnh cùng người cho rơ thấu cái lư thiệt tướng, thông ngộ chỗ thậm-thâm huyền-diệu ấy, thời liền biết được nguyên lư của Tâm-ḿnh, Tâm-Phật, Tâm-pháp, sở dĩ ḿnh hiểu biết được vậy rồi, th́ tự nhiên ḿnh được tánh trí-huệ, lại được sáu căn thanh tịnh.  Sáu căn thanh tịnh là:

 

1.  mắt thường thấy các vật sắc-chất mỗi loại số nhiều vô cùng, nhưng mà ngoài mắt vừa thấy, th́ thần trí-huệ ở trong đă phân biệt được rằng: các sắc chất ấy nó thuộc về chỗ không mà ra, cái không kia nó thành ra vật sắc này, hiểu nổi cái sắc đây, th́ đủ biết cả ngũ-uẩn, cái thọ, cái tưởng, cái hành, cái thức, cũng thuộc về lư không, tức thị là đức Diệu-Sắc-Thân Như-Lai.

 

2.  Tai thường nghe các tiếng nói, mỗi thứ tiếng nhiều vô cùng, nhưng lỗ tai vừa nghe, th́ trí-huệ đă phân biệt được, những tiếng ấy đều thuộc về chỗ không, mà cái không nầy cũng là tiếng nói, tức là đức Diệu-Âm-Thinh Như-Lai.

 

3.  Mũi thường ngửi các mùi trầm hương, mỗi mùi hương nhiều vô cùng, nhưng lỗ mũi vừa bắt mùi, th́ trí-huệ đă phân biệt được các mùi hương ấy, thuộc về chỗ không, mà cái không nầy hóa ra trầm hương, ấy thiệt đức Hương-Tích Như-Lai.

 

4.  Lưỡi thường nếm các mùi trong đời, cay đắng chua ngọt v.v... nhiều vô cùng, nhưng cuống lưỡi vừa nếm, th́ trí-huệ đă phân biệt được những mùi ấy đều thuộc về không, v́ cái không tức thị là mùi đời, ấy thiệt đức Pháp-Hỉ Như-Lai.

 

5.  Thân thường biết các vật chi nó xúc-chạm, mà vật xúc-chạm nhiều vô cùng, và khi ngoài thân vừa xúc- chạm, th́ trí-huệ đă phân biệt được các vật xúc-chạm ấy thuộc về chỗ không, mà cái không nầy toàn là xúc-chạm, ấy là đức Trí-Thắng Như-Lai.

 

6.  Ư con người thường tư-tưởng phân-biệt mỗi việc không cùng, bởi vậy nhờ có thêm trí-huệ, cho nên phân biệt được muôn pháp chi cũng đều thuộc về chỗ không, v́ trong cái không đó, nó có hiện bày ra muôn pháp, tức là đức Pháp-Minh Như-Lai".

 

Phật bảo: “Này ông Vô-Ngại Bồ Tát! Phàm có thiện-nam tín-nữ nào, thấy sáu căn này bày hiện nhơn gian đó, nơi miệng ḿnh nói lời lành chánh th́ nghiệp lành thêm nhiều, lại đặng nên Phật đạo. Miệng nói ra tiếng tà-vạy th́ việc ác mỗi ngày thêm nhiều, ắt phải đọa địa-ngục, cam chịu quả báo đau khổ”.

 

Phật bảo: “Nầy ông Vô-Ngại! Trong chơn lư việc lành việc dữ, rơ ràng chắc chắn vậy, chẳng nên không tin, ngươi phải hiểu, thân tâm ḿnh thiệt là pháp-khí của Phật, lại cũng như mười hai bộ Đại-Tạng Kinh, đă có từ đời vô-thỉ đến nay, mà tụng hoài vẫn không hết. Kinh tạng của Như-Lai đây, duy có bậc thức-tâm kiến- tánh, mới biết đặng mà thôi, chớ các bực Thanh-văn phàm phu, làm sao hiểu thấu đặng?”.

 

Phật kêu ông Vô-Ngại nói nữa rằng: “Bằng có người nào đọc tụng kinh nầy, mà tỏ ngộ chỗ thật-tướng th́ biết đặng thân tâm nầy, hẳn thiệt là pháp-khí của Phật. C̣n như người nào say-mê đường dục-lạc, không tỉnh giấc mộng hồn, chẳng biết thân tâm ḿnh là căn bổn của Phật-pháp, chắc người đó phải trôi nổi trong sáu-nẻo, đọa lạc trong ba-đường dữ, đắm ch́m nơi biển khổ, không nghe đặng danh hiệu Phật-pháp".

 

Lúc bấy giờ, có năm trăm vị Thiên-tử, ở trong đại chúng nghe Phật thuyết pháp rồi, đều đặng thanh tịnh nơi pháp-nhăn, rất đỗi vui mừng, liền phát tâm thành Phật.

 

PHẨM THỨ BA

VẤN ĐỀ CHÁNH ĐẠO, SANH TỬ, TẪN TÁNG

 

Ông Vô-Ngại Bồ-Tát lại bạch Phật rằng: “Ngưỡng bạch Đức Thế-Tôn!  Vả lại, hết thảy người đời, việc sanh tử là hệ trọng, cớ sao khi sanh chẳng lựa ngày, hễ đến giờ sanh th́ sanh ra, đến khi chết cũng không lựa ngày, hễ đến giờ chết th́ chết ngay, c̣n cái việc tẫn-liệm an táng nầy lại lựa kiếm ngày lành, giờ tốt mới tẫn liệm an táng đặng sau con cháu giàu sang vinh hiển, thật là si-mê. Mà trái lại sau khi liệm chôn rồi, chẳng thấy lành tốt chi cả, chỉ thấy có họa hại tới hoài, con cháu th́ bần cùng khốn khổ, đó là phần nhiều, c̣n việc giàu sang th́ ít thấy. Ngưỡng cầu Đức Thế-Tôn mở lượng từ-bi, thương người tà-kiến vô tri, xin Phật thuyết chánh-pháp nhơn-duyên sanh-tử là do đâu mà có, để cho người đời tỉnh ngộ trở về chánh đạo, không c̣n làm việc si-mê ngược ngạo như trước nữa”.

 

Phật nói: “Lành thay! Hay thay ! Ngươi nay v́ có ḷng thương những người mê muội, nên ân-cần chí thiết, cầu hỏi ta về việc sanh tử, cùng với pháp tẫn-liệm an-táng, vậy ngươi và cả thảy trong đại-hội này hăy trụ thần lắng nghe, ta nay v́ ngươi giảng thuyết cái lư trí-tuệ, và chánh pháp đại-đạo vậy. Luận cái thể trời đất rộng lớn, c̣n mặt trời mặt trăng vẫn tỏ sáng hoài, th́ năm tháng ngày giờ đều tốt cả, thiệt không có ngày nào khác lạ, ngày nào cũng tốt".

 

Phật nói: “Thế gian bày ra có lịch số tính toán, là từ trước kia, bỡi ông Nhân-Vương Bồ-Tát, có tâm từ bi quảng đại, thương xót người đời, cũng như cha-mẹ thương xót con thơ, mới giáng sanh xuống trần làm vị nhân chúa, làm cha mẹ nhân dân. Từ đó mới thuận theo tánh của người đời mà dạy bày phong tục, làm ra lịch số, coi ngày coi giờ, coi niên văng vận hạn địa lư, ban truyền trong thiên hạ, cho biết bốn-mùa tám-tiết mà dùng, biên ra có chữ trực b́nh, trực măn, trực thành, trực thâu, trực khai, trực trừ, có văn chấp, nguy, phá, sát.

 

Đó là xét chơn-lư mà dùng, những người ám độn kia, lại mê chấp y theo văn-tự đó mà tin dùng, ắt không khỏi bị việc hung-họa. Chẳng những vậy thôi, lại c̣n rước bọn tà-sư về nhà an-phù trấn trạch, nói luận lăng-xăng, lên đồng nhập cốt, cầu khẩn tà-thần, bái xá cúng lạy loài ngạ-quỷ. Làm  như thế th́ gây thêm đường tội lỗi, sự lo phiền khổ năo lại tự ḿnh chịu.

 

Những người như vậy, chẳng những gây họa lụy cho ḿnh, lại c̣n mắc tội phản nghịch chánh lư của thiên-địa. Vả lại người đời chẳng chịu làm lành tu phước y theo chánh-giáo sửa ḿnh, lại đi rước thầy ếm đối, cúng tế tà thần v.v... mà cầu cho ḿnh tiêu tai khỏi họa ấy. Thí như bỏ ánh sáng của nhật nguyệt mà chun vào chỗ tối tăm, trái bỏ đường chính đạo, lại đi lầm đường tà giáo, những hạng người đó, rất đỗi là ngược ngạo".

 

Phật gọi ông Vô-Ngại mà nói: “Hoặc có thiện-nam tín-nữ, đến ngày gần sinh sản, dạy họ trước nên tụng kinh Bát-Dương nầy ba biến, th́ sanh con được mau dễ, thiệt là đại kiết lợi, đứa trẻ đặng khiếu thông minh trí-huệ, phước đức đầy đủ, khỏi lo có nạn thương vong yểu-tử. C̣n trong lúc gần chết, cũng phải đọc kinh Bát-Dương nầy ba biến, th́ được chết một cách an-lành, thần hồn thảnh thơi tất cả  không việc chi trở hại”.

 

Phật lại kêu ông Vô-Ngại mà nói: “ngày ngày đều tốt, tháng nào cũng vậy, mỗi năm cũng không xấu, c̣n năm tháng ngày giờ nào chẳng tốt đâu, bởi vậy hễ sắm lo việc tẩn liệm an táng rồi, th́ cứ tẩn liệm an táng ngay, không cần coi ngày giờ nữa, mà trước ngày giờ tẩn liệm an táng đó, phải tụng kinh Bát-Dương nầy bảy biến thiệt rất đại kiết lợi. Chẳng những linh-hồn đặng phước vô lượng mà con cháu môn-nhơn cũng đặng giàu sang sống lâu thêm tuổi nữa, đến ngày mạng chung đều nên đạo Phật”.

 

Phật kêu ông Vô-Ngại nói: “Như chỗ đất mai táng đó chẳng cần phân Đông Tây Nam Bắc làm ǵ, xem cuộc đất an ổn th́ đặng, người bằng ḷng hỷ-lạc, th́ quỷ thần cũng ưng thuận hỷ-lạc, nhưng phải đọc kinh nầy ba biến, rồi sẽ mai táng, an trí mộ phần, không có tai chướng họa hại chi cả, mà gia đ́nh lại đặng giàu sang no- ấm, thật là đại kiết-lợi vậy”.

 

Khi đó đức Thế-Tôn, muốn lặp lại nghĩa trên bèn nói kệ rằng:

 

 

Muốn làm việc chi cứ làm.

V́ mỗi ngày đều tốt cả.

C̣n việc tẩn-liệm an-táng.

Ngày giờ nào cũng tốt vậy.

Khi sinh ra cùng khi chết.

Các việc phải tụng kinh Bát-Dương.

Th́ đều đặng đại kiết lợi .

Là v́ mỗi tháng đều rất tốt.

Mỗi năm cũng là đại hảo thời.

Cho nên ai chí thành chánh-tín.

Đọc kinh rồi tẩn liệm an-táng.

Th́ phước thọ vinh-hoa muôn đời.

 

 

Phật nói đến đây, trong đại chúng có bảy ngàn muôn người, khi nghe Phật nói chánh-pháp rồi, th́ ḷng dạ mở thông sáng suốt, xả tà qui chánh, y đúng theo Phật-pháp mà đoạn trừ ḷng nghi hoặc, đều phát tâm cầu làm Phật.

 

PHẨM THỨ TƯ

THẾ-ĐỀ CƯỚI-GẢ

 

Lúc bấy giờ ông Vô-Ngại Bồ-Tát bạch với Phật rằng: “Ngưỡng bạch đức Thế-Tôn, hết thảy người đời, dùng việc cưới gả làm nghĩa chí thân, nhưng trước lại cần hỏi ngày sanh tháng đẻ, hạp cùng không hạp, sau xem lựa ngày tốt giờ tốt, rồi mới cưới gả, khi cưới gả xong hai đàng đă thành nghĩa chí thân rồi, cớ sao giàu sang sống lâu phần ít, c̣n nghèo khổ sanh ly tử-biệt số nhiều.  Hết thảy bọn tà tín bói toán lựa chọn đó, sao kết cuộc nó có sai khác vậy?  Ngưỡng cầu đức Thế-Tôn, xin dạy rơ chỗ đó, đặng dứt ḷng nghi cho con và người đời".

 

Phật nói: “Ta v́ ngươi và cả thảy người đời mà nói, hăy định thần nghe cho rơ. Luật trong trời đất, về âm dương, nó tương đối với nhau, chớ không phải tuyệt đối, như mặt Nhật thuộc về khí dương, mặt Nguyệt thuộc về khí âm. Thủy thuộc âm, Hỏa thuộc dương, nam nữ, âm-dương ấy là cái khí trời đất ḥa hiệp, cho nên hết thảy cỏ cây muôn vật, nương theo khí âm-dương đó mà hóa sanh vậy. Thể mặt Nhật mặt Nguyệt xây vần bốn mùa tám tiết không sai, khí thủy-hỏa nương nhau tạo nên muôn vật, con trai và con gái ḥa hợp nhau mới có sanh sản ra con cháu. Tất cả việc ấy, đều thiệt là đạo lư thường của trời đất, là lư tự nhiên, cũng là cái pháp thế đề vậy.

 

Nầy ông Vô-Ngại ! Ta thương hại cho người không học thức nên rất si-mê, chẳng phân biệt tà-chánh, lầm tin theo thầy tà, bày đặt bói toán kiết hung, mong cầu giàu sang sống lâu, mà không chịu làm lành tu phước, chỉ măi gây ra trăm ngh́n nghiệp dữ, chẳng những thân sống đây bị tai họa liên miên, sau khi thác rồi khó khỏi tam-đồ khổ năo. Bởi vậy nên thân mạng nầy chết rồi, số được lại thân người rất ít, ít như đất đọng đầu móng tay, c̣n số đọa trong địa ngục làm loài súc sanh ngạ quỷ lại nhiều lắm, nhiều như đám đất lớn.

 

Nầy ông Vô-Ngại ! Mà số người được lại thân người kia, những người phát tâm chánh tín tu hành th́ ít quá, như đất đọng đầu móng tay, c̣n cái hạng tin theo tà sư gây tạo ác-nghiệp th́ nhiều lắm, nhiều như đám đất lớn.

 

Nầy ông Vô-Ngại ! Nay ta dạy cho rơ, như người đời muốn kết nghĩa hôn-nhơn ấy, chẳng cần hỏi mạng thủy-hỏa khắc cùng không khắc, v́ khi c̣n trong bào thai, cùng niên mạng chẳng đồng nhau, chỉ phải coi trong bộ sách Lộc-Mạng thời biết việc phước đức nhiều hay ít, lấy đó mà kết làm quyến thuộc, song đến ngày cưới gả, phải tụng kinh Bát-Dương nầy ba biến, thời đặng tốt lành thành tựu các việc. Cho nên ḿnh biết tu phước lành, th́ ông thiện-thần theo bảo hộ duyên lành tỏ sáng nương nhờ cùng nhau. Bởi thế nên được giàu sang, con cháu rỡ ràng hưng thạnh, thêm thông minh trí huệ, lại có tài năng siêu quần, xuất chúng, cư xử gia đ́nh thảo-thuận kính nhường, thiệt là đại kiết lợi không có nạn thương vong yểu tử, phước đức đều đầy đủ, sau lại nên Phật đạo".

 

Khi ấy có tám vị Bồ-tát, nương nhờ oai thần đức Phật, chứng đặng pháp đại-tổng-tŕ phát nguyện thường ở trong thế gian, ḥa quang đồng trần với người thế tục đem hết tinh thần năng lực, mà phá diệt đám tà-giáo, dựng lập nền chánh-pháp như xưa, tiếp độ cả bốn loài trọn nên tám pháp giải-thoát. Danh hiệu tám vị Bồ tát biên ra sau đây:

 

 

1.  Bạc-Đà Bà-La Bồ-tát lậu tận ḥa

2.  La-Lân-Na-kiệt Bồ-tát lậu tận ḥa

3.  Kiều-Việt-Đẩu Bồ-tát lậu tận ḥa

4.  Na-La-Diên Bồ-tát lậu tận ḥa

5.  Tu Di Thâm Bồ-tát lậu tận ḥa

6.  Nhơn Kỳ Đạt Bồ-tát lậu tận ḥa

7.  Ḥa Luân Điều Bồ-tát lậu tận ḥa

8.  Vô Duyên Quang Bồ-tát lậu tận ḥa

 

 

Lúc đó tám vị Bồ-tát ấy, đều bạch Phât rằng: “Ngưỡng bạch đức Thế-Tôn, chúng con nhơn trước nhờ chư Phật truyền dạy, pháp thần chú đà-la-ni nầy, nay chúng con nguyện nói thần chú ấy ra, để ủng hộ những người thọ tŕ đọc tụng kinh Bát-Dương nầy, không có chi lo sợ, khiến cho hết thảy mọi người và sự bất thiện, chẳng dám làm việc tổn hại vị nào đọc tụng kinh Bát-Dương nầy”.

 

Khi ấy tám vị Bồ-tát đồng ra trước Phật, tụng thần chú nầy:

 

A ĐÀ NI, A ĐÀ NI, A TỲ LA, MẠNG LỆ MẠNG ĐÀ LỆ XÀ LÊ

 

“Ngưỡng bạch đức Thế-Tôn, phàm có chúng bất-thiện nào, muốn đến làm việc năo loạn vị nào tụng kinh Bát-Dương này, hễ nó nghe chúng con đọc tụng thần-chú nầy tức th́ đầu chúng nó bể ra bảy phần như nhánh cây a-la-lê vậy”.

 

PHẨM THỨ NĂM

NÓI VỀ TÊN KINH BÁT-DƯƠNG

 

Lúc bấy giờ ông Vô-Biên-Thân Bồ-tát, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, qú gối chấp tay đến trước Phật bạch rằng: “Ngưỡng bạch đức Thế-Tôn, cớ sao kêu là kinh Bát-Dương, cầu xin đức Thế-tôn, giải nói rơ nghĩa Bát-Dương, cho mỗi người chúng con nghe biết, đặng tỉnh ngộ bổn-tâm thấu chỗ tri-kiến như Phật hầu đặng đoạn hết ḷng nghi hoặc”.

 

Phật kêu Vô-Biên-Thân nói: “Lời người vừa hỏi đó thật hay lắm, chúng ngươi hăy lắng thần nghe cho rơ, nay ta giúp trong đại chúng, giải nghĩa đề mục kinh Bát-Dương nầy:

 

Chữ Bát đó, nghĩa là: Phân biệt rành vậy.  Chữ Dương đó, nghĩa là: giải tỏ cái lư đại-thừa làm Phật và rơ đặng phân rành nhơn duyên tám-thức kia, nó không có chỗ nào đặng, không chỗ nào dính mắc cả.

 

Phật nói tám cái thức đó nghĩa là bề ngang; chữ Dương Minh nghĩa là bề dọc; ngang dọc phù hiệp nhau, thành ra bộ kinh giáo, cho nên kêu là kinh Bát-Dương.

 

Tám cái thức là:

 

1.  Con mắt thấy biết các h́nh sắc tốt xấu.

2.  Lỗ tai nghe biết các tiếng nói lành dữ.

3.  Lỗ mũi ngửi biết mùi hơi thơm thúi.

4.  Cuống lưỡi biết nếm, mùi vị mặn lạt.

5.  Cái thân nầy biết cử động chạm xúc.

6.  Cái ư kia biết phân biệt hết thảy muôn việc.

7.  Cái thức hàm-tàng nầy chứa đủ các hạt

     giống không thiếu vật chi.

8.  C̣n thức A-lại-da bao trùm hết thảy, như

     vậy đă phân biệt rành rẽ, cội gốc tám-thức

     không có chỗ nào có, th́ đâu có dính mắc

     chi đâu.

 

 

Phải biết hai con mắt vốn là thiện-quang-minh thiên, mà trong quang-minh thiên đó, lại hiện ra vị Thế-Tôn Nhật Nguyệt Quang Minh. Hai lỗ tai thiệt là thinh-văn thiên, mà trong thinh-văn thiên đó, lại hiện ra đức Vô-Lượng Thinh Như-Lai. Hai lỗ mũi thiệt là Phật hương-thiên, mà trong Phật hương-thiên đó, lại hiện ra Đức Hương Tích Như-Lai. Cuống lưỡi thiệt là thiện-pháp vị-thiên, mà trong pháp-vị thiên đó hiện ra Đức Pháp-Hỷ Như-Lai. Cái thân thiệt là Tỳ-lô giá-na thiên, mà trong Tỳ-lô giá na thiên đó, lại hiện ra đức Phật Thành-Tựu Tỳ-Lô Giá-Na. Người nào thấy biết tự tâm ḿnh có đức kính tượng Phật, th́ đó hiện ra đức Phật Tỳ-Lô Xá-Na quang minh.  Cái ư thiệt là vô phân-biệt thiên, mà trong vô-phân-biệt thiên đó, lại hiện ra đức Bất-Động Như-Lai. Cái tâm đó thiệt là pháp-giới thiên, mà trong pháp-giới thiên, lại hiện ra đức Không-Vương Như-Lai.  Cái thức hàm-tàng thiệt là thức-thiên, chứa hết thảy các pháp, hay diễn nói ra kinh A-Hàm, và bộ Đại Bát-Nhă Niết-Bàn kinh. C̣n cái thức A-lại-da, cũng to lớn bao trùm cho nên diễn nói ra bộ Đại-Trí Độ-Luận kinh, và bộ Lăng Già-Luận kinh vậy".

 

Phật kêu ông Vô-Biên Thân bồ tát mà nói rằng: “Nầy ngươi phải hiểu, Phật đó là pháp mà pháp đó là Phật, hiệp lại làm một thể-tướng, liền hiện ra đức Đại-Thông-trí-Thắng Như-Lai".

 

Trong khi Phật nói kinh Bát-Dương nầy, th́ hết thảy sơn hà đại địa, sáu phương trời đất chấn động, lại có ánh sáng chói ḷa trời đất, vô cùng vô tận, lồng-lộng mênh mông, không biết đâu mà kể cho xiết, mà hết thảy các chỗ tối tăm đều được tỏ sáng, hết thảy các chốn địa-ngục cũng đều tiêu mất, hết thảy chúng tội- nhơn đều đặng thoát khổ.

 

Lúc bấy giờ trong đại chúng, kể số đặng tám-muôn tám ngàn vị Bồ-tát, đồng thời chứng quả Phật, đồng hiệu là Không-Vương Như-lai, mà cái kiếp của tám muôn tám ngàn vị Bồ-tát ấy chứng đặng quả Phật đó, tên là kiếp Ly-Cấu, vị Phật xuất hưng cứu thế đời đó, tên là đức Vô-Biên Phật, hết thảy nhơn dân trong kiếp đó đều đặng quả vị Bồ-tát.

 

V́ đồng tu pháp lục-độ, quyết tu thời thành tựu không có ḷng bỉ thử tật-đố, nên chứng đặng bực vô- tránh tam-muội. C̣n thầy Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ đều đặng pháp tổng-tŕ và đặng thâm ngộ vào lư nhứt-thừa của Phật, có vô số trong hàng thiên-long, chúng dạ-xoa, thần càng-thát bà, thần A-tu-la, thần Ca-lầu-la, thần Khẩn-na-la, thần Ma-hầu-la-dà, nhân cùng với phi nhơn, hết thảy đều đặng chỗ pháp nhăn thanh-tịnh sáng suốt mà tu hành Bồ-tát đạo.

 

PHẨM THỨ SÁU

LỜI  PHÚ-CHÚC

 

Phật kêu ông Vô-Biên Thân bồ tát mà nói rằng: “Phàm có người nào đến ngày thăng quan tiến chức, cùng ngày khánh hạ tân gia, phải thực hành trai giới, đọc tụng kinh nầy ba biến, sẽ đặng phước đức rất lớn, có các vị thiện-thần đi theo ủng-hộ, cả gia-tộc đều được khương-ninh trường-thọ.

 

Bằng có người Thiện-nam tín-nữ, phát tâm đọc tụng kinh nầy một biến, th́ có phước đồng như tụng hết thảy các bộ kinh khác, nếu như biên chép kinh Bát-Dương nầy một quyển, th́ công đức bằng biên chép hết thảy kinh khác, công-đức nhiều đến vô lượng vô số, lớn bằng hư không chẳng biết bờ bến đâu mà nói cho hết phần công đức ấy được, mà các vị đó tương lai đều nên quả Phật cả".

 

Lại vầy nữa, Vô-Biên Bồ-tát lớn: “Phàm trong chúng sanh có người nào chẳng tin theo chánh-pháp của Phật, tâm chấp tà-kiến, thoảng như có nghe kinh Bát-Dương nầy lại sanh tâm khinh-dễ, gọi kinh nầy không phải là lời Phật nói, th́ người đó hiện ở thế gian phải mang các chứng bệnh dữ, cả ḿnh máu mủ chảy đầy, ghẻ lác lở lói, tanh hôi dơ uế, ai thấy cũng nhờm gớm. Chẳng những vậy thôi, mà c̣n hành cho đến ngày chết, thần hồn phải đọa vào địa ngục vô-gián, chịu khổ quỷ sứ hành h́nh, bắt bỏ nằm trên dường sắt nóng lửa trên cháy xuống, lửa dưới hừng lên, c̣n thêm quỷ ngưu-đầu cầm giáo sắt đinh ba đâm xỉa nát nhừ châu thân. Mấy chú dạ-xoa lại đem nước đồng sôi rót vào miệng, th́ gân xương nát bấy ră rời, luồng gió nghiệp thổi tới, sống hoàn h́nh lại, kế đó bị quỷ xúm lại hành tội nữa, hành một ngày đêm một muôn lần sống chết vậy, chịu các sự đau nhức, không có giây phút nào ngừng nghỉ. V́ tại bọn người này không tin nhơn-quả, khinh chê kinh-giáo thánh hiền, nên phải bị quả báo đến như vậy.

 

PHẬT THƯƠNG XÓT CÁC NGƯỜI TỘI ĐÓ, NÓI BÀI KỆ NHƯ VẦY:

 

 

  1.   Thân nầy có ra cũng tự nhiên

  2.   Năm vóc kia tự nhiên có đủ

  3.   Trưởng đại đó tự nhiên trưởng đại,

  4.   Lăo thành kia tự nhiên lăo thành,

  5.   Sanh ra đó tự nhiên sanh ra,

  6.   Ngày chết kia tự nhiên phải chết.

  7.   Ḿnh cầu sống lâu đều chẳng được.

  8.   Muốn cho chết sớm cũng khó nỗi,

  9.   Việc khổ việc vui tự ḿnh gây,

10.   Việc tà việc chánh tự ḿnh làm.

11.   Muốn khởi công làm những việc chi.

12.   Cứ tụng kinh chẳng cần bói toán,

13.   Ngàn đời muôn kiếp được phước lớn,

14.   Đặng đạo thành Phật chuyển pháp-luân

 

 

PHẨM THỨ BẢY

CHỨNG-NGỘ CHỖ MẦU-NHIỆM

 

Khi Phật nói kinh Bát-Dương nầy rồi, hết thảy trong đại chúng đồng khen pháp nầy xưa nay chưa từng nghe, nay đặng nghe những lời huyền diệu rồi, ḷng dạ tỏ sáng, vui mừng hớn-hở, đều bày hiện sắc tướng chư Phật, mà chẳng phải tướng chư Phật, là v́ c̣n chấp có tướng, nên chi thấu vào chỗ tri-kiến của Phật, tỏ ngộ chỗ tri-kiến của Phật rồi, mà cũng không chấp chỗ thấu vào, và không chấp chỗ tỏ ngộ đó, không nên chấp một pháp nào cả, như thế mới chứng đặng cái vui của cơi Niết-Bàn.

 

Khi ấy đức Thế-tôn muốn nói lại những lời mầu-nhiệm nên nói bài kệ như vầy:

 

 

Thân tướng tốt sáu căn trọn đủ,

Hết thảy các thiện-nam tín-nữ,

Tâm vui-thích làm việc bố thí,

Đặng thân nầy không nên xan-tham

Người phụ nữ nghe đặng kinh nầy,

Phát tâm hớn hở rất vui mừng,

Sau này thoát đặng thân phụ nữ,

Sanh ra đặng làm thân nam tử,

Các việc đao binh hại chẳng đặng,

Độc trùng thú dữ hại không đặng,

Quan quyền cùng các việc đạo tặc

Muốn hại người đó cũng chẳng đặng,

Người đời thấy yêu mến kính nhường,

Trăm ngàn tai họa đều tiêu hết,

Từ thủy chí chung hại chẳng đặng,

Nam-nữ thảy phải tụng kinh này,

Th́ đặng phước báu như trước nói.

 

 

PHẨM THỨ TÁM

ĐỒNG PHỤNG-HÀNH THỦ-HỘ

 

Lúc bấy giờ, các vị Bồ-tát cùng với đức Di-Lặc Bồ-tát, lại có bốn vị Đại Thiên-Vương đồng bạch Phật rằng: “Ngưỡng bạch Đức Thế-Tôn !  Chúng con nương oai-thần của đức Thế-Tôn đồng nhau nguyện theo ủng hộ Kinh Bát-Dương Thần-Chú nầy, chúng con đồng gắng sức cứu giúp bảo hộ, ở đời như người nào có bịnh khổ chi, mà chí tâm đọc tụng kinh nầy, th́ chúng con sẽ hộ trợ cho tiêu trừ các bịnh”.

 

Khi các vị Bồ-tát, cùng ngài Xá-Lợi Phất và thầy Tỳ-Kheo, Tỳ-Kheo ni, Thiện-Nam Tín-Nữ với các hàng Thiên Long Quỷ Thần, chúng A-tu-la, Chuyển Luân Thánh-Vương, thảy đều đảnh lễ Phật, vui mừng tín thọ phụng hành theo Chánh-pháp của đức Phật dạy.

 

LỜI CÁC VỊ BỒ-TÁT KHEN PHẬT

 

 

         Kinh Bát-Dương thiệt là đạo chân chánh.

         Ba đời hàng chư Phật nói rất rơ ràng.

         Tám vị Bồ-tát cũng đều thầm giúp.

         Chư vị Thần-minh cùng nhau vây quanh.

         Đời quá khứ tu phát huệ thành Phật.

         Hiện nay ai nghe nhớ mau tỏ ngộ.

         Phàm làm việc chi phải tụng kinh nầy.

         Người lành ấy nào có bị yểu vong.

         Ta nay khắp nguyện hết thảy các loài.

         Chỗ cầu nguyện chi đều đặng tṛn đủ.

         Đời vô-thủy đến nay bị vọng thức.

         Có thân này ra gian-nan khốn-khổ.

         Bốn đại và tham sân si lừng lẫy.

         Sáu căn, cùng thập truyền,thập sử buộc ràng.

         Ầm-ầm gió nghiệp thổi tấn bước tới.

         Non vô-minh dựng trước mặt lờ-mờ.

         Nhiễm mê dục-lạc hồn phải chơi-vơi.

         Lửa vô-căn tham-sân-si hừng cháy.

         Niệm nhớ ái-ân trong biển sanh-tử.

         Lai láng nổi-trôi gịng nước vọng t́nh.

         Như thế mà muốn giải thoát th́ khó.

         Như rùa mù mong  gặp bộng cây trôi.

         Như hạt cải gieo mũi kim khó trúng.

         Phật ở trong thân đâu phải Phật khác.

         Thánh-Hiền lập giáo chỉ sửa tâm người.

         Tín lạy Đức Vô-Ngại Bồ-Tát.

 

 

NAM MÔ VÔ NGẠI BỒ TÁT MA HA TÁT (3 lần)

 

MA HA BÁT NHĂ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH

 

Quán tự tại Bồ tát, hành thâm Bát Nhă Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

 

Xá Lợi Tử ! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.

 

Xá Lợi Tử ! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc,vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhăn, nhỉ, tỷ, thiệt, thân, ư; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhăn giới, năi chí vô ư thức giới, vô vô minh diệc, vô vô minh tận, năi chí vô lăo tử diệc, vô lăo tử tận, vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.

 

Dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề tát đỏa y Bát nhă ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại; vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn. Tam Thế chư Phật, y Bát nhă ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

 

Cố tri Bát nhă Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.

 

Cố thuyết Bát nhă ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:

 

Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha. (3 lần)

 

 

TIÊU TAI CÁT TƯỜNG THẦN CHÚ

 

 

Nẳng mồ tam măn đa, mẫu đà nẩm. A bát ra để, hạ đa xá ta nẳng nẩm. Đát diệt tha. Án, khê khê, khê hế, khê hế, hồng hồng, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, để sắc sá, để sắc sá, sắc trí rị, sắc trí rị, ta phấn tra, ta phấn tra, phiến để ca, thất rị duệ, ta phạ ha. (3 lần)

 

 

 

 

       Nguyện ngày an lành đêm an lành.

       Đêm ngày sáu thời thường an lành.

       Tất cả các thời đều an lành.

       Xin nguyện từ-bi thường gia hộ

 

 

 

Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới đại từ đại bi tiếp dẫn độ sư A Di Đà Phật

 

 

Nam mô A Di Đà Phật                                 (108 lần)

Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật (108 lần)

Nam mô Đại bi Quán Thế Âm Bồ tát              (10 lần)

Nam mô Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát         (10 lần)

Nam mô Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát      (10 lần)

Nam mô Đạo Tràng Hội Thượng Phật Bồ tát   (10 lần)

 

 

 

NHẤT TÂM ĐẢNH LỄ

(Mỗi danh hiệu - một lạy)

 

 

Nam Mô  Bổn Sư Thích-Ca Mâu Ni Như Lai.

Nam Mô  Phổ Quang Như-Lai .

Nam Mô  Diệu Sắc Thân Như Lai.

Nam Mô  Diệu Âm Thinh Như Lai.

Nam Mô  Hương Tích Như Lai.

Nam Mô  Pháp Hỷ Như Lai.

Nam Mô  Trí Thắng Như Lai.

Nam Mô  Pháp Minh Như Lai.

Nam Mô  Nhật Nguyệt Quang Minh Như Lai.

Nam Mô  Vô Lượng Thanh Như Lai.

Nam Mô  Thành Tựu Tỳ Lô Giá Na Như Lai.

Nam Mô  Kiến Tượng Như Lai.

Nam Mô  Lô Xá Na Quang Minh Như Lai.

Nam Mô  Đại Thông Trí Thắng Như Lai.

Nam Mô  Bất Động Như Lai.

Nam Mô  Không Vương Như Lai.

Nam Mô  Vô Biên Như Lai.

Nam Mô  Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.

Nam Mô  Phổ Hiền Bồ Tát.

Nam Mô  Vô Ngại Bồ Tát.

Nam Mô  Nhơn Vương Bồ Tát.

Nam Mô  Bạc Đà Bà La Bồ Tát.

Nam Mô  La Lân Na Kiệt Bồ Tát.

Nam Mô  Kiều Việt Đẩu Bồ Tát.

Nam Mô  Na La Diên Bồ Tát.

Nam Mô  Tu Di Thâm Bồ Tát.

Nam Mô  Nhơn Kỳ Đạt Bồ Tát.

Nam Mô  Hoà Luân Điều Bồ Tát.

Nam Mô  Vô Duyên Quang Bồ Tát.

Nam Mô  Vô Biên Thân Bồ Tát.

Nam Mô  Di Lặc Bồ Tát.

Nam Mô  Xá Lợi Phất Bồ Tát.

 

 

 

TỤNG

 

 

Đệ tử kính lạy,

Đức Phật Thích-Ca,

Phật A Di Đà,

Mười phương chư Phật,

Vô lượng Phật Pháp,

Cùng Thánh Hiền Tăng.

Đệ tử lâu đời lâu kiếp,

Nghiệp chướng nặng nề,

Tham giận kiêu căng,

Si–mê lầm lạc.

Ngày nay nhờ Phật,

Biết sự lỗi-lầm,

Thành tâm sám-hối.

Thệ tránh điều dữ,

Nguyện làm việc lành,

Ngửa trông ơn Phật,

Từ-bi gia hộ.

Thân không tật bịnh,

Tâm không phiền-năo,

Hằng ngày an vui tu-tập,

Pháp Phật nhiệm-mầu,

Để mau ra khỏi luân hồi,

Minh tâm kiến tánh,

Trí-tuệ sáng suốt,

Thần thông tự-tại,

Đặng cứu độ các bậc tôn trưởng,

Cha mẹ anh em,

Thân bằng quyến thuộc,

Cùng tất cả chúng sanh,

Đều trọn thành Phật-Đạo.

 

 

 

HỒI HƯỚNG

 

 

           Phúng kinh công đức thù thắng hạnh,

           Vô biên thắng phước giai hồi hướng,

           Phổ nguyện pháp giới chư chúng sanh,

           Tốc văng vô lượng quang Phật sát,

           Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền năo,

           Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu,

           Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ,

           Thế thế thường hành Bồ tát đạo.

           Nguyện sanh Tây Phương Tịnh độ trung,

           Cửu phẩm Liên hoa vi phụ mẫu,

           Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,

           Bất thối Bồ tát vi bạn lữ,

           Nguyện dĩ thử công đức,

           Phổ cập ư nhứt thiết,

           Ngă đẳng dữ chúng sanh,

           Giai cọng thành Phật đạo.

 

 

 

PHỤC NGUYỆN

 

 

    Tam bảo chứng minh,

    Từ bi gia hộ,

    Hiện tiền phước huệ trang nghiêm,

    Một hậu đồng sanh tịnh độ,

    Thứ nguyện đệ tử.......

    Nguyện tiêu tam chướng,

    Nguyện trưởng phước duyên,

    Nguyện kiến Di Đà,

    Nguyện sanh Tịnh Độ

    Phổ nguyện pháp giới chúng sanh

    Tề thành Phật đạo.

 

 

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

 

 

TAM QUY Y

 

 

Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm (1 lạy)

 

Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải (1 lạy)

 

Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lư đại chúng, nhất thiết vô ngại (1 lạy)

 

 

 

Nguyện đem công đức nầy,

Hướng về khắp tất cả,

Đệ tử và chúng sanh,

Đều trọn thành Phật đạo.

 

 

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

 

(Bái 3 bái, Lễ tất)